Tìm hiểu và so sánh giữa MBR với GPT và BIOS với UEFI

LongAnIT 11/08/2019 Bình luận
Các khái niệm chi tiết về MBR, GPT, BIOS và UEFI khá dài dòng nên trong bài viết này mình muốn cung cấp thông tin khái quát và so sánh giữa MBR với GPT, BIOS với UEFI sao cho ngắn gọn dễ hiểu nhất.

So sánh giữa MBR với GPT

MBR và GPT đều là hai tiêu chuẩn của ổ cứng quy định cách thức nhập xuất dữ liệu, sắp xếp và phân vùng ổ đĩa. Chúng ta có thể sử dụng các phần mềm để chuyển từ ổ cứng MBR sang GPT và từ ổ cứng GPT sang MBR. Bảng dưới đây so sánh sự khác nhau giữa 2 chuẩn ổ cứng này.


Do ưu điểm vượt trội của GPT và hiện nay máy tính ngày càng rẻ, cấu hình CPU, RAM, ổ cứng ngày càng tăng lên đáp ứng được cấu hình Windows 64 bit nên các máy tính mới đều dần dần chuyển qua chuẩn GPT.

So sánh giữa BIOS và UEFI
BIOS (đầy đủ là Legacy BIOS) và UEFI (Apply gọi là EFI) đều là phần mềm hệ thống kiểm tra các thiết bị vào ra trên máy tính của bạn, khi khởi động máy tính thì BIOS hoặc UEFI sẽ kiểm tra máy tính các thông số card màn hình, Ram, CPU,.. và gửi thông số đó cho HĐH và sau đó máy tính sẽ khởi động.

Mọi chức năng của BIOS đều được UEFI hỗ trợ và có thêm nhiều ưu điểm vượt trội nên UEFI đang thay thế hoàn toàn BIOS. Bạn không thể chuyển đổi qua lại giữa BIOS và UEFI.

MBR/BIOS và GPT/UEFI

Các máy tính hiện này thường sử dụng theo cặp nếu dùng BIOS thì sẽ dùng ổ cứng chuẩn MBR còn nếu dùng UEFI thì sẽ dùng ổ cứng GPT. Bạn không thể dùng ổ cứng chuẩn GPT trên máy tính dùng BIOS nhưng có thể dùng cả hai chuẩn ổ cứng GPT và MBR trên UEFI. Tuy nhiên nếu sử dụng UEFI thì bạn nên dùng ổ cứng chuẩn GPT.

Khi bạn dùng GPT/UEFI thì tốc độ khởi động và tắt máy sẽ nhanh hơn đáng kể so với dùng MBR/BIOS hoặc MBR/UEFI.

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

Công nghệ RAID raid 0, raid 1, raid 5, raid 6, raid 10

LongAnIT 11/06/2019 Bình luận
RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:

 Trong vài năm trở lại đây, từ chỗ là một thành phần “xa xỉ” chỉ có trên các hệ thống máy tính lớn, máy trạm, máy chủ, RAID đã được đưa vào các máy tính để bàn dưới dạng tích hợp đơn giản. Tuy nhiên, có thể người mua biết bo mạch chủ (BMC) của mình có công nghệ RAID nhưng không phải ai cũng biết cách sử dụng hiệu quả. Bài viết này giới thiệu thông tin cơ bản về RAID cũng như một vài kinh nghiệm sử dụng để tăng sức mạnh cho PC.

RAID LÀ GÌ?

RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:

Có thể Bạn quan tâm: các loại ổ cứng, Các loại ổ lưu trữ chất lượng cao, Cách kiểm tra hiệu năng VPS

Có thể hiểu nhanh về RAID qua thông tin dưới đây:
- RAID chỉ nên làm việc với các loại ổ cứng dung lượng bằng nhau.
- Sử dụng RAID sẽ tốn số lượng ổ nhiều hơn bình thường, nhưng đổi lại là dữ liệu sẽ an toàn hơn.
- RAID có thể dùng cho bất kỳ hệ điều hành nào, từ Window 98, window 2000, window XP, Window 10, window server 2016, MAC OS X, Linux...vv
- RAID 0 bằng tổng dung lượng các ổ cộng lại.
- RAID 1 chỉ duy trì dung lượng 1 ổ.
- RAID 5 sẽ có dung lượng ít hơn 1 ổ (5 ổ dùng raid 5 sẽ có dung lượng 4 ổ).
- RAID 6 sẽ có dung lượng ít hơn 2 ổ (5 ổ dùng raid 6 sẽ có dung lượng 3 ổ).
- RAID 10 sẽ chỉ tạo được khi số ổ là chẵn, phải có tối thiểu từ ô ổ trở lên. Dung lượng bằng tổng số ổ chia đôi (10 ổ thì dung lượng sử dụng là 5 ổ).

Ví dụ, với 1 loại ổ 1TB:
- Nếu bạn có 2 ổ cứng: Có thể chọn RAID 0 (hỏng 1 ổ là mất dữ liệu), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 2TB. Test thử: Rút 1 ổ => Báo lỗi ngay.
- Nếu bạn có 2 ổ cứng: Có thể chọn RAID 1 (hỏng 1 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 1TB. Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 3 ổ cứng: Có thể chọn RAID 1 (hỏng 2 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 1TB. Test thử: Rút 2 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 3 ổ cứng: Có thể chọn RAID 5 (hỏng 1 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 2TB. Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 4 ổ cứng: Có thể chọn RAID 5 (hỏng 1 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 3TB. Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 4 ổ cứng: Có thể chọn RAID 6 (hỏng 2 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 2TB.  Test thử: Rút 2 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 4 ổ cứng: Có thể chọn RAID 10 (hỏng 2 ổ thuộc 2 cặp RAID khác nhau vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 2TB.  Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 5 ổ cứng: Có thể chọn RAID 5 (hỏng 1 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 4TB.  Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 5 ổ cứng: Có thể chọn RAID 6 (hỏng 2 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 3TB. Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 6 ổ cứng: Có thể chọn RAID 5 (hỏng 1 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 5TB. Test thử: Rút 2 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 6 ổ cứng: Có thể chọn RAID 6 (hỏng 2 ổ dữ liệu vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 4TB. Test thử: Rút 2 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
- Nếu bạn có 6 ổ cứng: Có thể chọn RAID 10 (hỏng 2 ổ thuộc 2 cặp RAID khác nhau vẫn an toàn), tổng dung lượng khi cài Window nhìn thấy sẽ là 1 ổ 3TB.  Test thử: Rút 1 ổ cứng ra => Không bị lỗi gì.
...vv
Thông tin thêm về việc test thử: Các bạn có thể thử bằng cách cài RAID lên, cài hệ điều hành Window (hoặc Linux) lên cho chạy. Sau đó rút 1 ổ cứng ra và kiểm tra xem hệ điều hành Window (hoặc Linux) vẫn đang hoạt động hay báo lỗi.

Các loại RAID
Về phân loại thì hiện nay có khá nhiều loại Raid được sử dụng như Raid 0, Raid 1, Raid 3, Raid 4, Raid 5, Raid 10 .v.v… Trong bài viết tìm hiểu về Raid ngày hôm nay chúng tôi xin được giới thiệu với các bạn top các loại Raid chính phổ biến và thường được các khách hàng sử dụng.

Chi tiết hơn, các bạn có thể xem ở phía dưới đây:
1. RAID 0

Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu hai đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping. Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung mình có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ vì như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều.

Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số.

2. RAID 1

Đây là dạng RAID cơ bản nhất có khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu. Cũng giống như RAID 0, RAID 1 đòi hỏi ít nhất hai đĩa cứng để làm việc. Dữ liệu được ghi vào 2 ổ giống hệt nhau (Mirroring). Trong trường hợp một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường. Bạn có thể thay thế ổ đĩa bị hỏng mà không phải lo lắng đến vấn đề thông tin thất lạc. Đối với RAID 1, hiệu năng không phải là yếu tố hàng đầu nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó không phải là lựa chọn số một cho những người say mê tốc độ. Tuy nhiên đối với những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng thì hệ thống RAID 1 là thứ không thể thiếu. Dung lượng cuối cùng của hệ thống RAID 1 bằng dung lượng của ổ đơn (hai ổ 80GB chạy RAID 1 sẽ cho hệ thống nhìn thấy duy nhất một ổ RAID 80GB).

3. RAID 0+1

Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đã ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai “đàn anh”. Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu “thấy được” là (4*80)/2 = 160GB.

4. RAID 5
Raid 5 là gì? Về cơ bản của Raid 5 cũng gần giống với 2 loại raid lưu trữ truyền thống kể trên là Raid 1 và Raid 0. Tức là cũng có thể tách ra lưu trữ các ổ cứng riêng biệt và vẫn có phương án dự phòng khi có sự cố phát sinh đối với 1 ổ cứng bất kỳ trong cụm.

Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng. Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng. Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3. Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2. Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó trình tự này lặp lại, đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu. Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao. Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB thì dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB.

5. JBOD
JBOD (Just a Bunch Of Disks) thực tế không phải là một dạng RAID chính thống, nhưng lại có một số đặc điểm liên quan tới RAID và được đa số các thiết bị điều khiển RAID hỗ trợ. JBOD cho phép bạn gắn bao nhiêu ổ đĩa tùy thích vào bộ điều khiển RAID của mình (dĩ nhiên là trong giới hạn cổng cho phép). Sau đó chúng sẽ được “tổng hợp” lại thành một đĩa cứng lớn hơn cho hệ thống sử dụng. Ví dụ bạn cắm vào đó các ổ 10GB, 20GB, 30GB thì thông qua bộ điều khiển RAID có hỗ trợ JBOD, máy tính sẽ nhận ra một ổ đĩa 60GB. Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi.

6. Một số loại RAID khác
Ngoài các loại được đề cập ở trên, bạn còn có thể bắt gặp nhiều loại RAID khác nhưng chúng không được sử dụng rộng rãi mà chỉ giới hạn trong các hệ thống máy tính phục vụ mục đích riêng, có thể kể như: Level 2 (Error-Correcting Coding), Level 3 (Bit-Interleaved Parity), Level 4 (Dedicated Parity Drive), Level 6 (Independent Data Disks with Double Parity), Level 10 (Stripe of Mirrors, ngược lại với RAID 0+1), Level 7 (thương hiệu của tập đoàn Storage Computer, cho phép thêm bộ đệm cho RAID 3 và 4), RAID S (phát minh của tập đoàn EMC và được sử dụng trong các hệ thống lưu trữ Symmetrix của họ). Bên cạnh đó còn một số biến thể khác, ví dụ như Intel Matrix Storage cho phép chạy kiểu RAID 0+1 với chỉ 2 ổ cứng hoặc RAID 1.5 của DFI trên các hệ BMC 865, 875. Chúng tuy có nhiều điểm khác biệt nhưng đa phần đều là bản cải tiến của các phương thức RAID truyền thống.

Các dòng Raid như Raid 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6 đều được gọi là các chuẩn Raid chung. Còn các dòng Raid không tiêu chuẩn là Raid 10, Raid 0 + 1, Raid 50…

Đối với Raid 10 dữ liệu sẽ được lưu đồng thời vào 4 ổ cứng, trong đó 2 ổ dạng Striping (Raid 0) và 2 ổ (Mirroring) Raid. Về bản chất thì Raid 10 là sự kết hợp giữa 2 loại raid phổ biến và Raid 1 và Raid 0. Khi so sánh Raid 5 với Raid 10, chúng ta có thể thấy chúng đều giúp nâng cao hiệu suất, an toàn dữ liệu. Tuy nhiên, lưu trữ Raid 5 thì tiết kiệm chi phí hơn so với hình thức lưu trữ Raid 10.

Còn Raid 50 là sự kết hợp hoàn hảo giữa Raid 5 và Raid 0, dữ liệu được ghi lần đầu theo cơ chế Raid 0 nhưng lại được chia theo cơ chế Raid 5 ở lần ghi thứ hai. Nhờ vậy loại raid này vẫn đảm bảo tốc độ truy vấn rất tốt tương tự như RAID 10 nhưng lại tận dụng dung lượng ổ cứng tốt hơn Raid 10 rất nhiều.

BẠN CẦN GÌ ĐỂ CHẠY RAID?
Để chạy được RAID, bạn cần tối thiểu một card điều khiển và hai ổ đĩa cứng giống nhau về dung lượng. Đĩa cứng có thể ở bất cứ chuẩn nào, từ ATA, Serial ATA hay SCSI, tốt nhất chúng nên hoàn toàn giống nhau vì một nguyên tắc đơn giản là khi hoạt động ở chế độ đồng bộ như RAID, hiệu năng chung của cả hệ thống sẽ bị kéo xuống theo ổ thấp nhất nếu có. Ví dụ khi bạn bắt ổ 160GB chạy RAID với ổ 40GB (bất kể 0 hay 1) thì coi như bạn đã lãng phí 120GB vô ích vì hệ thống điều khiển chỉ coi chúng là một cặp hai ổ cứng 40GB mà thôi (ngoại trừ trường hợp JBOD như đã đề cập). Yếu tố quyết định tới số lượng ổ đĩa chính là kiểu RAID mà bạn định chạy. Chuẩn giao tiếp không quan trọng lắm, đặc biệt là giữa SATA và ATA. Một số BMC đời mới cho phép chạy RAID theo kiểu trộn lẫn cả hai giao tiếp này với nhau. Điển hình như MSI K8N Neo2 Platinum hay dòng DFI Lanparty NForce4.

Bộ điều khiển RAID (RAID Controller) là nơi tập trung các cáp dữ liệu nối các đĩa cứng trong hệ thống RAID và nó xử lý toàn bộ dữ liệu đi qua đó. Bộ điều khiển này có nhiều dạng khác nhau, từ card tách rời cho dến chip tích hợp trên BMC.

Card Raid cho PC là gì? Card Raid có thể là Onboard hoặc Card rời. Card RAID có chức năng hỗ trợ RAID có thể vận hành trong máy, là nơi tập trung các cáp dữ liệu nối các đĩa cứng trong hệ thống RAID và nó xử lý toàn bộ dữ liệu đi qua đó. Đối với các hệ thống PC, tuy chưa phổ biến nhưng việc chọn mua BMC có RAID tích hợp là điều nên làm vì nói chung đây là một trong những giải pháp cải thiện hiệu năng hệ thống rõ rệt và rẻ tiền nhất, chưa tính tới giá trị an toàn dữ liệu của chúng. Trong trường hợp BMC không có RAID, bạn vẫn có thể mua được card điều khiển PCI trên thị trường với giá không cao lắm.

Một thành phần khác của hệ thống RAID không bắt buộc phải có nhưng đôi khi là hữu dụng, đó là các khay hoán đổi nóng ổ đĩa. Nó cho phép bạn thay các đĩa cứng gặp trục trặc trong khi hệ thống đang hoạt động mà không phải tắt máy (chỉ đơn giản là mở khóa, rút ổ ra và cắm ổ mới vào). Thiết bị này thường sử dụng với ổ cứng SCSI và khá quan trọng đối với các hệ thống máy chủ vốn yêu cầu hoạt động liên tục.

Về phần mềm thì khá đơn giản vì hầu hết các hệ điều hành hiện đại đều hỗ trợ RAID rất tốt, đặc biệt là Microsoft Windows. Nếu bạn sử dụng Windows XP thì bổ sung RAID khá dễ dàng. Quan trọng nhất là trình điều khiển nhưng thật tuyệt khi chúng đã được kèm sẵn với thiết bị. Việc cài đặt RAID có thể gây một vài rắc rối nếu bạn thiếu kinh nghiệm nhưng vẫn có hướng giải quyết trong phần sau của bài viết.

Có hai trường hợp sẽ xảy ra khi người dung nâng cấp RAID cho hệ thống. Nếu hệ thống RAID bổ sung chỉ được dùng với mục đích lưu trữ hoặc làm nơi trao đổi thông tin tốc độ cao thì việc cài đặt rất đơn giản. Tuy nhiên nếu bạn dự định dùng nó làm nơi cài hệ điều hành, phần mềm thì sẽ rất rắc rối và phải cài đặt lại toàn bộ từ con số 0.



1. Chọn kiểu RAID
Vậy là bạn đã quyết tâm nâng cấp hệ thống của mình lên tầm cao mới. Nhưng chọn lựa kiểu RAID phù hợp không hẳn đã đơn giản như bạn nghĩ. Với điều kiện tại Việt , bạn có thể chọn một số giải pháp RAID bao gồm 0, 1, 0+1 và 5. Trong đó RAID 0, 1 là kinh tế nhất và thường có trên hầu hết các dòng BMC hiện tại. Kiểu RAID 0+1 và 5 thường chỉ có trên những loại cao cấp, đắt tiền.

RAID 0 chắc chắn là lựa chọn đem lại tốc độ cao nhất nhưng cũng là thứ mong manh nhất. Ví dụ bạn sử dụng 4 đĩa cứng ở RAID 0 thì tốc độ truyền dữ liệu có thể lên tới hơn 100MB/s. Đây là con số hết sức hấp dẫn với bất kì người dùng PC nào. Tuy thế khả năng mất dữ liệu cũng tăng tỉ lệ lên 4 lần. Đĩa cứng máy tính là một sản phẩm máy móc có chuyển động và sẽ bị “lão hóa” dần sau thời gian dài sử dụng (thật may là thời gian đĩa cứng lão hóa khá dài). Ngoài ra, trục trặc điện lưới hay lỗi phần điều khiển cũng có thể dẫn tới thảm họa. Vì vậy, không nên sử dụng RAID 0 để lưu trữ dữ liệu lâu dài nhưng nó lại là lựa chọn số một cho các ổ đĩa tạm cần tốc độ cao, ví dụ lưu trữ cơ sở dữ liệu web. Và nếu bạn định sử dụng lâu dài, hãy thêm một vài ổ cứng và chuyển sang hệ thống RAID 0+1. Điều đó thực sự lý tưởng nếu có nguồn tài chính dồi dào.

RAID 1 nếu chạy một mình sẽ không có tác dụng gì ngoài chuyện tạo thêm một ổ đĩa nữa giống hệt như ổ chính. Người dùng thông thường có thể không thấy hứng thú với RAID 1, ngoại trừ những ai phải lưu trữ và quản lý những tài liệu thực sự quan trọng như các máy chủ lưu thông tin khách hàng hoặc tài khoản. Nếu dùng RAID 1, bạn nên cân nhắc bổ sung thêm các khay tráo đổi nóng vì sẽ giúp phục hồi dữ liệu nhanh chóng hơn (bạn có thể tháo lắp ổ và tiến hành tạo bản sao sang ổ mới bổ sung trong khi hệ thống đang làm việc bình thường).

RAID 5 vào thời điểm hiện tại đang là lựa chọn số 1 cho mọi loại hình máy tính nhờ khả năng vừa sửa lỗi vừa tăng tốc. Nếu bạn dự kiến xây dựng một hệ thống RAID từ 4 đĩa cứng trở lên thì RAID 5 chắc chắn là giải pháp tối ưu.

Các loại RAID kết hợp, ví dụ RAID 0+1 hay RAID 50 (5+0) thường cho những đặc điểm của các kiểu RAID thành phần, tuy nhiên bạn nên cân nhắc và chỉ sử dụng nếu cần thiết vì chi phí cho linh kiện khá cao. Chúng ta có thể tổng kết lại như trong bảng:


2. Chọn lựa phần cứng
Việc đầu tiên là chọn lựa linh kiện phù hợp. Về chipset điều khiển RAID, bạn không có nhiều lựa chọn vì cơ bản chúng được tích hợp trên BMC. Tuy nhiên bạn cần chú ý những điểm sau.

Hiện tại bộ điều khiển RAID tích hợp thường gồm hai loại chính: chip điều khiển gắn lên BMC hoặc hỗ trợ sẵn từ trong chipset. Thông dụng gồm:

Chipset tích hợp:

+ Intel ICH5R, ICH6, ICH7. Những chipset cầu nam (SouthBridge) này đi kèm với dòng i865/875/915/925/945/955.

+ nVIDIA nForce2-RAID (AMD), nForce 3 Series (AMD A64), nForce 4 Series (AMD A64/ Intel 775).

Chip điều khiển bên ngoài: Có khá nhiều chủng loại của các hãng khác nhau như Promise Technology, Silicon Image, Adaptec, nhưng thường thấy nhất là hai dòng Silicon Image Sil3112 và 3114.

Những loại được tích hợp trong chip cầu nam thường có độ trễ thấp, dễ sử dụng. Tuy nhiên tính năng thường không nhiều và phần mềm còn hạn chế, đôi khi “lạm dụng” tài nguyên hệ thống cho tác vụ đọc/ghi. Các loại sử dụng chip của hãng thứ ba thì độ trễ thường cao hơn (không đáng kể), phần mềm và tính năng có phần phong phú hơn, sử dụng tối thiểu tài nguyên; các loại card rời thì dễ thay đổi, tháo lắp khi cần thiết. Tuy vậy bạn cần chú ý một điều cực kì quan trọng là loại Silicon Image Sil3112 có tính tương thích tương đối kém, do đó khi chuyển sang các hệ RAID khác có thể bị mất dữ liệu. Sil3114 và cao hơn đã khắc phục được lỗi này. Các hệ nForce và ICH5,6,7 có thể trao đổi ổ cứng qua lại dễ dàng, BIOS RAID của chúng cũng thông minh hơn và thường có khả năng nhận diện những nhóm ổ cứng RAID định dạng sẵn.

Một số BMC mới nhất ví dụ như DFI Lanparty NF4 SLI-DR có hỗ trợ cả RAID 5. Về giao tiếp dành cho máy tính để bàn, thông thường bạn chỉ tìm thấy các loại PATA hoặc SATA và vì phải sử dụng nhiều cáp, SATA sẽ là lựa chọn sáng suốt hơn ngay cả khi không tính đến tốc độ nhanh hơn và nhiều cải tiến công nghệ. Nếu dồi dào về tài chính, bạn có thể để mắt đến một số sản phẩm tương đối chuyên nghiệp cho phép cắm thêm RAM để dùng như bộ đệm cực lớn nhằm tăng tốc độ đáng kể.


Về ổ cứng thì bạn nên chọn các loại có khả năng truyền dữ liệu lớn và tốc độ truy xuất nhanh. Tốc độ truy xuất (Access Time) chỉ định thời gian cần thiết để đĩa cứng tìm thấy dữ liệu cần dùng và thông số này càng nhỏ càng tốt. Ngoài ra ổ cứng cũng nên có bộ đệm lớn (8MB trở lên), một số model mới có dung lượng bộ đệm 16MB và những công nghệ cho phép tăng hiệu năng làm việc đáng kể (như Seagate NCQ chẳng hạn). Tốt nhất các ổ cứng nên giống nhau vì RAID sẽ bị ảnh hưởng nếu có ổ đĩa chậm chạp hoặc dung lượng bé theo đúng tiêu chí “con sâu làm rầu nồi canh”.


3. Cài đặt RAID
Việc cài đặt RAID nói chung chủ yếu dựa vào BIOS của mainboard, RAID Controller và hầu như không có gì khó khăn.

Sau khi đã cắm ổ cứng vào đúng vị trí RAID trên bo mạch (tham khảo tài liệu đi kèm sản phẩm), bạn vào BIOS của BMC để bật bộ điều khiển RAID và chỉ định các cổng liên quan (thường trong mục Integrated Peripherals).

Sau thao tác này, bạn sẽ lưu thông số rồi khởi động lại máy tính. Chú ý thật kĩ màn hình thông báo và nhấn đúng tổ hợp phím khi máy tính yêu cầu (có thể là Ctrl+F hoặc F4 tùy bộ điều khiển RAID) để vào BIOS RAID.

Đối với BIOS RAID, mặc dù mỗi loại có một giao diện khác nhau (tham khảo tài liệu đi kèm) nhưng về cơ bản bạn phải thực hiện những thao tác sau:

+ Chỉ định những ổ cứng sẽ tham gia RAID.

+ Chọn kiểu RAID (0/1/0+1/5).

+ Chỉ định Block Size: Đây là chìa khóa ảnh hưởng rất lớn tới hiệu năng của giàn ổ cứng chạy RAID. Đối với RAID dạng Striping, Block size cũng có nghĩa là Stripe Size. Nếu thông số này thiết lập không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì sẽ gây lãng phí bộ nhớ và giảm hiệu năng. Ví dụ nếu Block Size có giá trị là 64KB thì tối thiểu sẽ có 64KB được ghi vào ổ đĩa trong mọi trường hợp, ngay cả khi đó là một file text có dung lượng 2KB. Vì thế giá trị này nên xấp xỉ tương ứng với kích thước trung bình của các file bạn dùng. Nếu ổ cứng chứa nhiều file nhỏ ví dụ tài liệu Word, bạn nên để block size bé, nếu chứa nhiều phim ảnh hoặc nhạc, block size lớn sẽ cho hiệu năng cao hơn (nhất là với hệ thống RAID 0).

Bên cạnh đó, Block size còn có một chức năng khác quyết định việc file sẽ được ghi vào đâu. Quay về với ví dụ Block Size 64KB, nếu như file có kích thước nhỏ hơn 64KB, nó sẽ chỉ được ghi vào một ổ cứng trong hệ thống RAID và như vậy sẽ không có bất cứ sự cải thiện hiệu năng nào. Trong một trường hợp khác, một file có kích thước 150KB sẽ được ghi vào 3 ổ đĩa với các đoạn 64KB + 64KB + 22KB và bộ điều khiển có thể đọc thông tin từ ba ổ cùng lúc cho phép tăng tốc đáng kể. Nếu bạn chọn block size là 128KB thì file đó chỉ được ghi vào 2 ổ 128KB + 22KB mà thôi. Thực tế bạn nên chọn Block Size là 128KB cho các máy tính để bàn trừ khi có nhu cầu riêng.

Sau khi bộ điều khiển đã nhận biết hoàn hảo hệ đĩa cứng mới, bạn tiến hành cài đặt hệ điều hành cũng như format ổ RAID. Windows XP là một lựa chọn sáng suốt.

Việc cài đặt Windows nói chung cũng giống như bình thường nhưng bạn cần chuẩn bị một ổ đĩa mềm và đĩa mềm chứa trình điều khiển (driver) cho bộ điều khiển RAID. Ngay sau khi nhấn bàn phím để vào cài đặt, bạn phải chú ý dòng chữ phía dưới màn hình cài Windows để nhấn F6 kịp lúc. Sau đó chờ một lát và khi được hỏi, bạn nhấn S để đưa driver RAID vào cài đặt.

Các bước còn lại, bạn thao tác đúng như với việc cài đặt trên một đĩa cứng bình thường.

Sau khi đã ổn định được hệ thống, bạn chú ý cài thêm những tiện ích điều khiển hệ thống RAID để tận dụng các tính năng mở rộng và đôi khi là cả hiệu năng nữa. Có thể liệt kê một số chương trình như Intel Application Acceleration RAID Edition hay nVIDIA RAID Manager...

Chú ý chung:

Nếu bạn đang có một ổ đĩa đầy dữ liệu và muốn thiết lập RAID 0, bạn phải format ổ và làm lại mọi thứ. Vì thế hãy tìm cho mình một phương án sao lưu phù hợp. Nếu sử dụng RAID 1 thì việc này không cần thiết.

Thông thường với một hệ thống RAID 0 bạn nên có thêm một ổ cứng nhỏ để lưu những thứ tối quan trọng phòng khi có trục trặc mặc dù rất khó xảy ra.

Khi máy tính khởi động lại (đặc biệt là khi bị khởi động bất thường), có thể hệ thống sẽ dừng lại khá lâu ở quá trình bộ điều khiển RAID nhận diện các ổ đĩa, thậm chí có thể có nhiều tiếng động lạ phát ra ở phần cơ đĩa cứng. Bạn không phải lo lắng vì điều này hoàn toàn bình thường do bộ điều khiển phải đồng bộ hoạt động của tất các ổ trong nhóm RAID mà nó quản lý.

Các nhóm đĩa cứng RAID thường gồm vài ổ đĩa cứng hoạt động cạnh nhau nên nhiệt lượng tỏa ra khá lớn, không có lợi về lâu dài. Bạn hãy tìm giải pháp giải nhiệt nếu có điều kiện để tránh rắc rối ngoài ý muốn.

Hot spare là gì?
Qua các mục trên thì chắc hẳn ai cũng biết Raid là gì, nhưng “Làm thế nào sử dụng RAID đúng cách? Làm thế nào sử dụng RAID an toàn? Xử lý sự cố về RAID?” thì các bạn cần biết thêm một vài thông tin khác nữa.

Thông thường khi sử dụng RAID, người dùng thường theo thói quen là chỉ sử dụng 2 HDD và nghĩ đấy là an toàn. Tuy nhiên, bạn đã bao giờ nghĩ rằng khi HDD gặp sự cố thì bạn sẽ làm như thế nào chưa? Không lẽ lại chạy đi tìm 1 HDD đồng dạng gắn vào thay thế cái HDD cũ ư? Sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

Tìm được HDD cùng serial sau 1 - 6 tháng hoặc có thể lâu hơn. Việc sử dụng cũng là cả 1 vấn đề, 2 HDD không đồng dạng thì hệ thống không tối ưu, thậm chí không thể RAID được.
Nếu may mắn hơn thì bạn sẽ tìm đúng serial HDD cùng loại. Tuy nhiên, việc tiếp theo thay thế vào đúng HDD die, rebuild lại RAID nhưng lại cũng có khá nhiều người dùng không biết cách rebuild, chỉnh sửa loạn xạ khiến mất luôn RAID đồng nghĩa với việc mất luôn data.
Vì vậy chúng tôi xin gợi ý cho bạn một cách dùng RAID an toàn - đó chính là sử dụng HOT SPARE.

Vật Hot Spare là gì? Hot spare (Warm spare/ hot standby) được sử dụng như một cơ chế chuyển đổi dự phòng để cung cấp độ tin cậy trong cấu hình hệ thống. Hot spare hoạt động và được kết nối như một phần của hệ thống làm việc. Khi một thành phần quan trọng của hệ thống gặp trục trặc, hot spare được chuyển sang trạng thái sẵn sàng để khắc phục. Khi thiết lập chế độ này, sự cố 1 trong 2 HDD chết thì lập tức 1HDD ở trạng thái HOT SPARE sẽ tự động tham gia vào và thay thế chỗ HDD chết kia, và tự động rebuild lại system raid cho bạn.

Một số khái niệm khác bạn cần biết khi sử dụng Raid
Intel Serial IO Driver là gì?
Intel Serial IO Driver giúp kết nối phần mềm giữa các thiết bị và Hệ điều hành được cài đặt trong PC / MAC / Tablet của bạn. Nó quản lý giao tiếp giữa các ứng dụng và giao diện được cung cấp bởi trình điều khiển thường chạy các phụ kiện thiết bị khi bạn gắn chúng.
Nếu không có trình điều khiển này, Raid không thể hoạt động, không thể kích hoạt hoặc truy cập để đưa vào sử dụng.

Stripping là gì?
Trong lĩnh vực lưu trữ dữ liệu, data striping là dữ liệu tuần tự luận lý, tương tự như một tập tin đơn, nhưng nó lại được lưu trên nhiều đĩa vật lý khác nhau, mục đích là tăng tốc truy xuất dữ liệu. Data striping bao gồm việc phân chia các bit của mỗi byte trên nhiều đĩa theo thứ tự.

Intel® rapid storage technology là gì?
Intel Rapid Storage Technology (được viết tắt là IRST) là công nghệ mới của Intel hỗ trợ quản lý ổ cứng: bảo vệ dữ liệu của bạn (hạn chế mất mát dữ liệu trong trường hợp 1 phần ổ cứng bị hỏng), tiết kiệm năng lượng điện tiêu thụ, tăng tốc độ ghi và đọc của ổ cứng.

Lượng thông tin mà bạn tạo ra ngày một nhiều hơn (ghi lại, chia sẻ, chỉnh sửa từ những Video, hình ảnh, tài liệu) dung lượng lưu trữ đã tăng lên rất nhiều trong nhiều năm. Tất cả nội dung kỹ thuật số chất lượng cao này đòi hỏi phải đưa ra giải pháp lưu trữ an toàn và tin cậy.

IRST được tích hợp trên nền tảng windows rất phổ biến hiện nay như: windows 7, 8, 8.1 hay mới nhất là windows 10.

TỔNG KẾT
Giá trị mà RAID mang lại cho hệ thống là không thể phủ nhận - sự an toàn, hiệu năng cao hơn tùy cấu hình. Thực tế cho thấy RAID 0 và 0+1 được ưa chuộng nhất trong môi trường gia đình. RAID 0 nhanh nhất nhưng cũng nguy hiểm nhất, chỉ cần một trục trặc là coi như mọi chuyện chấm dứt. Trong khi đó RAID 1 mặc dù đem lại khả năng bảo đảm an toàn thông tin nhất nhưng cũng thường đem lại cho người dùng cảm giác lãng phí (chi tiền cho 2 ổ cứng mà hiệu năng và dung lượng chỉ được 1). RAID 5 đem lại hiệu năng cũng như độ an toàn cao nhưng thiết bị điều khiển thường khá đắt, đó là chưa kể đến số tiền chi cho ổ cứng cũng nhiều hơn nên ít người quan tâm trừ khi công việc cần đến. Chính vì thế, một số người dùng lại quay sang hướng sử dụng các ổ đĩa SCSI để giải quyết vấn đề hiệu năng/an toàn thông tin, tuy nhiên chi phí cho một hệ thống SCSI loại tốt có thể còn đắt hơn nữa.

Nếu để ý kĩ hơn, chúng ta sẽ thấy chuẩn IDE có nhiều vấn đề ví dụ các ổ đĩa không được thiết kế để chạy liên tục (rất quan trọng đối với các hệ thống máy chủ), dây cáp ATA hiện tại còn quá cồng kềnh nên khi sử dụng nhiều ổ đĩa sẽ dẫn tới hiện tượng chật kín case và trong trường hợp xấu nhất, nhiệt lượng tỏa ra sẽ dẫn tới trục trặc hệ thống. Nhưng với công nghệ ngày càng phát triển và những chuẩn mới như SATA ra đời, chắc chắn RAID sẽ có một tương lai tươi sáng và trở thành người bạn đồng hành lý tưởng cho các hệ thống máy tính cá nhân cao cấp.

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

Hướng dẫn xóa menu boot Win7 bằng lệnh bcdedit trong CMD

LongAnIT 11/05/2019 Bình luận
Nếu bạn sử dụng hệ thống dual boot - nhiều hệ điều hành, và khi bạn gỡ bỏ 1 hệ điều hành nào đó thì thành phần còn lại vẫn hiển thị trên menu boot của Windows 7. Trong bài viết sau mình sẽ hướng dẫn các bạn cách loại bỏ bớt những thành phần đó và tăng tốc độ khởi động nhanh hơn thay vì phải chờ thời gian để load menu.


Để chỉnh sửa menu khởi động, chúng ta cần sử dụng 1 tiện ích có sẵn trong Windows 7 gọi là bcdedit. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm trên mạng các chương trình chỉnh sửa menu boot với giao diện đồ hoạ đơn giản dành cho những bạn nào cảm thấy khó khăn trong việc chình sửa tôi sẽ cung cấp cho các bạn link tải an toàn ở cuối bài viết.

Trước tiên, mở cmd bằng quyền Administrator:


Tại cửa sổ dòng lệnh Dos, gõ lệnh bcdedit và Enter, danh sách boot menu sẽ xuất hiện:


Tìm đúng mục hoặc thành phần mà bạn cần xóa bỏ, tại bài viết này là Ubuntu cuối danh sách. Chúng ta cần để ý đến chuỗi ký tự lộn xộn được gán với tên identifier, cách thủ công là gõ ra notepad hoặc copy và paste. Kích chuột phải vào bất cứ chỗ nào trên cửa sổ và chọn Mark:

Sau đó, kích chuột trái vào chuỗi ký tự của mục cần xóa, từ đầu đến cuối, bao gồm cả 2 dấu đóng mở ngoặc:

Nhấn Enter, đoạn ký tự trên sẽ được lưu trữ vào clipboard. Tại dòng lệnh phía dưới, gõ bcdedit /delete (nhớ để dấu cách ở phía cuối), kích chuột phải vào bất cứ chỗ nào tại cửa sổ cmd, chọn paste


Nhấn Enter để hoàn thành câu lệnh, và thông tin boot của Ubuntu sẽ bị xóa khỏi danh sách. Gõ lệnh bcdedit thêm 1 lần nữa để kiểm tra boot menu:


Khởi động lại máy tính để hoàn thành. Windows 7 sẽ chạy thẳng vào hệ thống, trừ khi bạn có nhiều hơn 2 hệ điều hành khởi động thì menu khởi động sẽ hiện ra tùy thuộc vào việc bạn xóa bỏ bao nhiêu mục bằng bcdedit:

Để tìm hiểu thêm về chức năng của bcdedit, các bạn có thể sử dụng câu lệnh sau:

bcdedit /help

Dưới đây tôi cung cấp cho các bạn thêm link phần mềm freeware để chình sửa
https://www.boyans.net/DownloadVisualBCD.html
Chúc các bạn thành công!

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

4 cách đơn giản tăng tốc độ Internet lên 120%

LongAnIT 10/21/2019 Bình luận
Chỉnh sửa giới hạn băng thông, quản lý bộ nhớ cache và sử dụng Google DNS là một trong những mẹo nhỏ để tăng tốc độ Internet. 1. Thay đổi giới hạn băng thông Mặc định, máy tính sẽ giữ khoảng 20-30% băng thông để dành cho hệ thống. Tuy nhiên, nếu muốn sử dụng hết công suất, bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn sau đây.

1. Tùy chỉnh giới hạn Banwidth trên Windows


Bước 1: Đầu tiên, bạn hãy nhấn tổ hợp phím Windows + R, gõ từ khóa gpedit.msc và nhấn Enter để mở Group Policy.
Truy cập Group Policy với command
Truy cập Group Policy với command
Bước 2: Tiếp theo, bạn hãy truy cập vào đường dẫn Computer Configuration > Adminitrative Templates > Network > QoS Packet Scheduler.

Bước 3: Trong khung nhỏ bên phải, người dùng chỉ cần nhấp đôi vào mục Limit reservable bandwidth, sau đó thiết lập thành Enable > Apply > OK (mặc định sẽ là Not configured). Thao tác này sẽ giúp tăng tốc Internet nhanh hơn 20-30% so với bình thường.

Kích hoạt tính ăng giới hạn banwidth mặc định của windows
Kích hoạt tính ăng giới hạn banwidth mặc định của windows

2. Quản lý bộ nhớ cache

Cache là dữ liệu tạm thời được sử dụng bởi trình duyệt Internet Explorer, Google Chrome, Mozilla Firefox… giúp người dùng mở trang web nhanh hơn mà không cần phải tải lại nội dung. Về cơ bản, bộ nhớ đệm được thiết kế để tăng tốc độ Internet nhưng đôi khi nó có thể làm chậm tốc độ nếu vượt quá kích thước giới hạn. Trong trường hợp này, người dùng cần phải xóa cache để tăng tốc độ Internet.

Bước 1: Đầu tiên, bạn hãy mở trình duyệt Google Chrome và nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + Delete (Windows) hoặc command + Shift + Delete (Mac).

Xóa cache trình duyệt nếu như nó vượt quá giới hạn cho phép làm chậm tốc độ 

Bước 2: Tiếp theo, bạn đánh dấu chọn vào các mục Download history, Cookies and other site and plugin data và Cached images and files rồi nhấn Clear browsing data.

3. Sử dụng Device Manager

Bước 1: Bạn hãy kích phải chuột vào My computer (hoặc This PC) và chọn Properties > Device manager > Ports > Communications Ports.
Tăng tốc từ cổng Communication trên PC
Tăng tốc từ cổng Communication trên PC
Bước 2: Trong cửa sổ mới hiện, bạn hãy chuyển sang thẻ Port Settings, thiết lập tùy chọn Bits per second ở mức tối đa (tức 128000) và mục Flow control là Hardware rồi nhấn OK để lưu lại. Cuối cùng, bạn chỉ cần khởi động lại máy tính để áp dụng các thay đổi.
Thiết lập giá trị như trong hình chọn nhé
Thiết lập giá trị như trong hình chọn nhé
Ngoài các bước trên bạn có thể thay đổi DNS bằng việc sử dụng một số máy chủ DNS của google hay Open DNS các bạn có thể xem tại bài viết dưới đây:

 https://www.longanit.com/2019/10/truy-cap-internet-nhanh-hon-toan-hon-voi-open-dns.html

Chúc các bạn thành công!

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

Truy cập internet nhanh hơn, an toàn hơn với DNS 1.1.1.1

LongAnIT 10/21/2019 1 Bình luận
Cloudflare, công ty nổi tiếng về hiệu suất và bảo mật internet đã công bố việc ra mắt dịch vụ DNS an toàn và nhanh nhất thế giới 1.1.1.1, không chỉ tăng tốc độ kết nối internet mà con làm khiến cho các ISP khó khăn hơn trong việc theo dõi lịch sử duyệt web của bạn.

Truy cập internet nhanh hơn, an toàn hơn với DNS 1.1.1.1
Truy cập internet nhanh hơn, an toàn hơn với DNS 1.1.1.1

Domain Name System (DNS) hay máy chủ DNS đệ quy là một phần thiết yếu của internet, nó cho phép thiết lập tương ứng giữa địa chỉ IP và tên miền. Ví dụ khi bạn muốn truy cập vào trang web của VietSunshine, bạn sẽ gõ vào thanh địa chỉ có trình duyệt: vietsunshine.com.vn, DNS của bạn sẽ tìm kiếm địa chỉ IP được liên kết với tên miền của vietsunshine và tải trang web.

Các dịch vụ DNS mặc định được cung cấp bởi các ISP thường chậm và không an toàn, hầu hết mọi người đều dùng của các nhà cung cấp khác như OpenDNS (208.67.222.222), Comodo DNS (8.26.56.26) và Google (8.8.8.8) để tăng tốc Internet.

Nhưng nếu bạn sử dụng dịch vụ DNS mới 1.1.1.1 của Cloudflare, máy tính / điện thoại thông minh / máy tính bảng của bạn sẽ bắt đầu giải quyết tên miền với tốc độ cực nhanh là 14,8 mili giây – nhanh hơn 28% so với những người khác, như OpenDNS (20,6ms) và Google 34.7ms).

Ngay cả khi bạn truy cập vào các trang web qua HTTPS, trình giải quyết DNS sẽ log vào mọi trang mà bạn truy cập, giúp cho ISP hoặc các dịch vụ DNS của bên thứ ba biết về mọi thứ mà bạn làm trên internet.

“Điều đó có nghĩa là, theo mặc định, ISP của bạn, mọi mạng wifi bạn đã kết nối và nhà cung cấp mạng di động của bạn có một danh sách tất cả các trang web mà bạn đã truy cập trong khi sử dụng chúng”, công ty cho biết.

Tuy nhiên, Cloudflare đã thay đổi trò chơi này bằng dịch vụ DNS miễn phí mới, nó sẽ là “dịch vụ DNS nhanh nhất và an toàn nhất trên Internet”, hứa hẹn ngăn chặn các ISP có thể dễ dàng theo dõi lịch sử duyệt web của bạn.

Cloudflare công khai DNS 1.1.1.1 và 1.0.0.1 (máy chủ DNS dự phòng), hỗ trợ cả DNS-over-TLS và DNS-over-HTTPS để đảm bảo sự riêng tư tối đa. Công ty cũng hứa sẽ không bán dữ liệu của người dùng, và sẽ xóa tất cả các bản ghi các truy vấn DNS trong vòng 24 giờ. Họ sẽ làm việc với KPMG để kiểm tra, chứng thực các hệ thống nhằm đảm bảo nó không thu thập dữ liệu của bạn.

Cách thay đổi cài DNS để tăng tốc độ Internet

Đối với Mac:


  • Mở System Preferences.
  • Search DNS Server và bấm vào nó.
  • Click vào + để add một DNS Server và nhập vào 1.1.1.1 và 1.0.0.1 (dự phòng)
  • Click OK và Apply.

Đối với Windows


  • Bấm vào Start và click Control Panel.
  • Click vào Network and Internet, sau đó chọn Adapter Settings
  • Bấm chuột phải vào mạng Wifi mà bạn đang kết nối và chon Properties
  • Chọn Internet Protocol Version 4 và click Properties, sau đó ghi lại bất kỳ mục nhập máy chủ DNS hiện có để tham khảo trong tương lai.
  • Bấm vào Use The Following DNS Server Addresses và thay thế  các địa chỉ DNS, với IPv4: 1.1.1.1 và 1.0.0.1; với IPv6: 2606:4700:4700::1111 và 2606:4700:4700::1001
  • Click OK và Close, sau đó khởi động lại trình duyệt.

Đối với thiết bị Android


  • Kết nối vào mạng Wifi ưa thích của bạn.
  • Nhập địa chỉ IP gateway của Router, điền username và password nếu được hỏi.
  • Trong trang cấu hình của router, tìm DNS server settings và ghi lại các thông số hiện có để tham khảo trong tương lai.
  • Thay thế  các địa chỉ DNS, với IPv4: 1.1.1.1 và 1.0.0.1; với IPv6: 2606:4700:4700::1111 và 2606:4700:4700::1001
  • Lưu lại cài đặt của bạn và khởi động lại trình duyệt.

Đối với thiết bị iOS (iPhone/iPad)


  • Từ màn hình chính của iPhone, mở Settings.
  • Mở Wifi và chọn mạng của bạn.
  • Bấm vào Configure DNS và click Manual.
  • Nếu có bất kỳ mục nào tồn tại, bấm nút – và Delete.
  • Add 1.1.1.1 và 1.0.0.1 vào địa chỉ DNS.
  • Lưu lại.

IP & Subnet mask là gì?

LongAnIT 10/11/2019 Bình luận
IP Address là một số duy nhất được gán cho một thiết bị trong một mạng. Nó khác với kiểu địa chỉ MAC. Xin nói qua về các loại địa chỉ này.

IP & Subnet mask là gì?

IP & Subnet mask là gì?
IP & Subnet mask là gì?

IP Address


IP Address là một số duy nhất được gán cho một thiết bị trong một mạng. Các thiết bị này có thể là một máy tính, router, máy in mạng ( loại máy in có Card mạng)…vv. Kiểu địa chỉ này gọi là Software Address. Nó khác với kiểu địa chỉ Hardware Address hay ta còn biết như kiểu MAC Address của Card mạng hay hard-code trong một số thiết bị mạng. Xin nói qua về địa chỉ kiểu này. Mỗi nhà sản xuất Card mạng trên thế giới trước khi sản xuất đều phải xin mua một lô địa chỉ MAC từ InterNIC => mỗi địa chỉ MAC address là duy nhất trên thế giới và không bao giờ có hai địa chỉ này trùng nhau ở bất cứ đâu.
IP Address là một số 32 Bit  và được chia thành 4 phần mỗi phần 8 Bit và ngăn cách nhau bởi dấu chấm (.). Có 3 cách để biểu diễn một địa chỉ IP:

Dạng thập phân : 130.57.30.56
Dạng nhị phân : 10000010. 00111001.00011110.00111000
Dạng Hecxa : 82 39 1E 38

Chúng ta thì thường sử dụng địa chỉ dưới dạng số thập phân, nhưng máy tính thì thường sử dụng địa chi IP dưới dạng số nhị phân.

Một địa chỉ IP bao giờ cũng có hai phần là địa chỉ mạng ( Network Address ) và địa chỉ máy ( Node Address ).

Network Address là một số duy nhất dùng để xác định một mạng. Mỗi máy tính trong một mạng bao giờ cũng có cùng một địa chỉ mạng.

Node Address là một số duy nhất đựơc gán cho một máy tính trong một mạng

Một số địa chỉ IP đặc biệt 


1- Nếu địa chỉ của Network Address toàn là các Bit 0 nghĩa là nó đại diện cho mạng đó (this network)
2- Nếu địa chỉ của Network Address toàn là các Bit 1 nghĩa là nó đại diện cho tất cả các mạng
3- Địa chỉ mạng là 127 đựơc gọi là địa chỉ LoopBack được thiết kế cho mỗi máy (local node), thường dùng cho việc tự kiểm tra mà không ảnh hưởng đến giao dich trên mang ví dụ ping 127.0.0.1
4 – Tât cả các Bit của Node Address toàn là 0 – this node
5 – Tât cả các Bit của Node Address toàn là 1 – Tất cả các máy trong một mạng nào đó
6 – Tất cả địa chỉ IP là toàn Bit 0 – Được sử dụng bởi RIP protocol
7 – Tất cả địa chỉ IP là toàn Bit 1 – Địa chỉ truyền tin (Broadcast) cho tất cả các máy trong một mạng

IP Address được chia thành 5 lớp là A,B,C,D,E.

Hai lớp D và E đang để dự trữ, chỉ còn 3 lớp A,B,C là đang sử dụng

Lớp: A

Định dạng: Mạng.Node.Node.Node
Bit đầu tiên: 0

Ở đây ta nhận thấy là ngoại trử Bit đầu tiên của địa chỉ IP là 0 – dùng để xác định là mạng lớp A, còn lại 7 Bit có thể nhận các giá trị 1 hoặc 0 => tổ hợp chập được 2 mũ 7 vị trí => có 128 mạng cho lớp A. Nhưng theo quy định là nếu tất cả các Bit của địa chỉ mạng là 0 sẽ không đựơc sử dụng => còn 127 mạng cho lớp A. Nhưng địa chỉ 127 là địa chỉ có toàn Bit 1 trong Network Address => cũng không sử dụng được địa chỉ này => Lớp A chỉ còn 126 lớp mạng bắt đầu từ 1 -126 => Khi nhìn vào một địa chỉ IP ta chỉ cần nhin vào Bit đầu tiên nếu biểu diễn ở dạng nhị phân là số 0 thì đó chính là mạng lớp A, còn nếu ở dạng thập phân thi nó nằm trong khoảng từ 1- 126.

Thế số máy tính trong mỗi mạng lớp A là bao nhiêu ? ta cũng có thể tính được là 2 mũ 24 – 2 =16,777,214 máy trong mạng lớp A

Lớp: B

Định dạng: Mạng.Mạng.Node.Node
Hai Bit đầu tiên: 10

Tương tự như cách tính với lớp A ta cũng có số mạng của lớp B sẽ là 2 mũ 14 = 16384 mạng lớp B – tương đương với số thập phân là 128 – 191.

Và số máy trong mỗi mạng lớp A là 2 mũ 16 -2 = 65,534 máy.

=> Một địa chỉ IP mà hai Bit đầu tiên là 10 hay ở dạng thập phân mà là 128 – 191 thì đó là máy tính trong mạng lớp B

Lớp : C

Định dạng: Mạng.Mạng.Mạng.Node
Ba Bit đầu tiên: 110

=> Số mạng lớp C sẽ là 2,097,152 mạng và 254 máy trong một mạng

=> Một địa chỉ IP mà các Bit đầu tiên là 110 hay ở dạng thập phân mà là 192 – 223 thì đó là máy tính trong mạng lớp C.

InterNIC và IANA đã đưa ra một số dải địa chỉ IP gọi là private address dùng để thiết lập cho các mạng cục bộ không kết nối với Internet. Theo RFC 1597 thì 3 dải đó là:

10.0.0.0 với Subnet mask là 255.0.0.0
172.16.0.0 với Subnet mask là 255.255.0.0
192.168.0.0 với Subnet mask là 255.255.255.0

=> bạn có thể sử dụng bất cứ địa chỉ nào trong dải này để thiết lập cho mạng của bạn.

Bắt đầu từ win98 trở đi Microsoft đưa ra một cơ chế gọi là Automatic private IP Addressing (APIPA) – Trên một mạng nhỏ không có DHCP hay trên một mạng mà DHCP bị Down thì máy Client DHCP có thể dùng cách giải đáp tên NetBIOS nút B để cấp cho Card mạng của nó một địa chỉ IP duy nhất từ một không gian địa chỉ đặc biệt 169.254.0.1 đến 169.254.255.254. Sau đó máy này có thể dùng TCP/IP để liên lạc với một máy khác bất kỳ mà đựơc kết nối cùng Hub của mạng LAN và cũng dùng cơ chế APIPA => sau này nếu bạn nhìn thấy IP có dạng 169.254.x.x thì nghĩa là DHCP Server của bạn đã Down rồi.


Subnet mask


Thường thì mỗi tổ chức, công ty hay quốc gia đựơc InterNIC cấp cho một số địa chỉ IP nhất định và nó có các máy tính đặt ở các vùng khác nhau. Cách tốt nhất để quản lý là chia ra thành các mạng nhỏ và kết nối với nhau bởi router. Những mạng nhỏ như thế gọi là Subnets. Khi chia ra thành các Subnet nhằm làm:

1- Giảm giao dịch trên mạng: lúc này router sẽ kiểm soát các gói tin trên mạng – chỉ có gói tin nào có địa chỉ đích ở ngoài mới đựoc chuyển ra
2 – Quản lý đơn giản hơn và nếu có sự cố thì cũng dễ kiểm tra và xác định đựơc nguyên nhân gây lỗi hơn là trong một mạng lớn.

Một điều quan trọng cũng cần phải nhớ là mỗi một Subnet vẫn là một phần của mạng nhưng nó cũng cần đựơc phân biệt với các Subnet khác bằng cách thêm vào một đinh danh nào đó. Định danh này được gọi là Subnet addess. Trước khi chia mạng thành các Subnet ta cần xác định số Subnet cho mạng và số máy trong mỗi Subnet là bao nhiêu, còn router trên mỗi một subnet chỉ cần biết các thông tin:

Địa chỉ của mỗi máy trên một Subnet mà nó quản lý
Địa chỉ của các Subnet khác

Ta đã biết rằng mỗi máy tính trong một mạng cụ thể nào đó thì phải có cùng một địa chỉ mạng => địa chỉ mạng không thể thay đổi đựơc => chỉ còn cách lấy một phần địa chỉ Node Address để làm đinh danh cho mỗi Subnet. => Điều này có thể thực hiện đựơc bằng cách gán cho mỗi máy tính một Subnet mask. Subnet mask là một số 32 Bit gồm các Bit 1 và 0 – Các Bit 1 ở các vị trí của Network Address hoặc Subnet mask còn các Bit 0 ở vị trí của Node Address còn lại.

Không phải là tất cả các mạng đều cần có Subnet và vì thế không cần sử dụng Subnet – Trong trường hợp này người ta nói là sử dụng Subnet mask mặc định ( default Subnet mask )

Lớp A Subnet mask là 255.0.0.0
Lớp B Subnet mask là 255.255.0.0
Lớp C Subnet mask là 255.255.255.0

Công thức dùng để tính số subnet lớn nhất và số Host lớn nhất có thể có trong một Subnet sẽ là :

Số subnet lớn nhất ( trong một mạng ) = 2^ Bit 1 ( trong subet mask ) – 2
Số Host lớn nhất ( trong một Subnet ) = 2^ bit 0 ( trong subet mask ) – 2

Để cho dễ hiểu xin minh họa qua ví dụ sau: Giả sử ta có một địa chỉ IP cho toàn bộ hệ thống mạng của ta là 132.8.18.60 => Đây là một địa chỉ lớp B và ta có biểu diễn của nó theo dạng

địa chỉ mạng. địa chỉ mạng. địa chỉ Host. địa chỉ Host

1000 0100 . 0000 1000 . 0001 0010 . 0011 1100

=> Nó có 16 Bit cho địa chỉ mạng và 16 Bit cho địa chỉ Host => ta có thể lấy một số Bit trong phần địa chỉ Host để làm Subnet Mask.

Giả sử ta cần chia mạng của ta thành 14 mạng con => ta cần xác định lấy mấy Bit của địa chỉ Host làm Sub net mask : 14 + 2 = 16 = 2^4 => cần 4 Bit

Ta có Subnet Mask : 1111 1111. 1111 1111. 1111 0000 0000 0000

Và ta cũng tính được luôn số Host trong mỗi Subnet là 2 ^12 -2 = 4094.

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

[TIP] Tăng tốc Windows 10 toàn tập

LongAnIT 9/04/2019 Bình luận
[TIP] Tăng tốc Windows 10 toàn tập
[TIP] Tăng tốc Windows 10 toàn tập

Hello xin chào các bạn trong series chuyên mục tăng tốc windows các bài viết trước longanit đã hướng dẫn cho các bạn cách tăng tốc windows 7/8/10 từ cơ bản đến nâng cao. Sở dĩ hôm nay tôi viết thêm bài này vì Windows 10 nó sẽ có một số tùy chỉnh hơi khác một chút so với Win7,8,...Tuy nhiên các bước thực hiện thì gần như là như nhau các bạn nhé.

Bước 1: Tạo file reg để import registry

Windows Registry Editor Version 5.00
[HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop]
"AutoEndTasks"="1"
"HungAppTimeout"="1000"
"MenuShowDelay"="8"
"WaitToKillAppTimeout"="2000"
"LowLevelHooksTimeout"="1000"
[HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Mouse]
"MouseHoverTime"="8"
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer]
"NoLowDiskSpaceChecks"=dword:00000001
"LinkResolveIgnoreLinkInfo"=dword:00000001
"NoResolveSearch"=dword:00000001
"NoResolveTrack"=dword:00000001
"NoInternetOpenWith"=dword:00000001
[HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control]
"WaitToKillServiceTimeout"="2000"
Bước 2: Tắt System Resore

System Protection là một tính năng sao lưu lại các hoạt động, thay đổi của Windows. Giúp bạn khôi phục lại Windows tại thời điểm máy tính hoạt động tốt nhất. Tuy nhiên chức năng này không những tốn bộ nhớ mà còn làm chậm máy tính của bạn. Vì vậy nếu cảm thấy không cần thiết các bạn có thể tắt chức năng này đi .

Chuột phải vào biểu tượng This PC sau đó chọn Properties -  System protection

  • Trong khung hộp thoai thực hiện các thao tác sau:
  • Tích chọn dòng Disable system protection.
  • Kéo dòng Max Usage về 0.
  • Ấn Delete để xóa các bản sao lưu C
Bước 3: Tắt một số hiệu ứng Visual effects

Visual effects là hiệu ứng chuyển cảnh khi bạn bật tắt các cửa sổ Windows. Bạn có thể bỏ đi một số tính năng không cần thiết của nó nhằm giúp cải thiện tốc độ 



Chuột phải vào biểu tượng This PC sau đó chọn Properties - Advanced system settings. Cửa sổ Performance Options bạn bỏ tích hết các lựa chọn rồi tích chọn lại 4 mục như hình phía trên.

  1. Show thumbnails instead of icons ( hiển thị hình ảnh xem trước )
  2. Smooth edges of screen fonts ( sử dụng font chữ đẹp của microsoft )
  3. Smooth-scroll list boxes ( hộp danh sách cuộn mượt )
  4. Use drop shadows for icon labels on the desktop ( hiển thị hiệu ứng bóng đổ dưới icon )

Bước 4:  Tắt tính năng tự động update Windows10
Trong services Windows 10 không có tính năng tắt tính năng tữ động update của windows các bạn có thể tắt nó thông qua Group Policy



Windows + R. Sau đó gõ vào gpedit.msc rồi ấn OK. (Chú ý: Windows 10 Home không có tính năng này nhé bạn phải download add nó vào từ tool của microsoft)

 Computer Configuration -> Administrative Templates -> Windows Components -> Windows Update
Sau đó bạn tìm và kick đúp chuột vào dòng Configure Automatic Updates và tiến hành tắt nó đi nhé. Khi nào cần thiết thì bạn có thể bật nó lên.

Cửa sổ mới xuất hiện -  Bạn tích vào Enabled - Chọn Notify for download and auto install.

Sau đó chọn OK. Khi nào rảnh rỗi bạn có thể tự update sau

Cách 5: Các biện pháp khác

- Ngoài những thủ thuật trên các bạn còn có thể tăng tốc khởi động Windows 10 bằng cách thay ổ cứng HDD thông thường bằng ổ cứng SSD và cài Win vào ổ SSD. Điều đó sẽ giúp cho máy tính của bạn hoạt động nhanh, mượt mà lên rất nhiều, có thể nhanh hơn tới 50 % đấy.

- Vệ sinh máy tính của mình tránh trường hợp để bụi bẩn máy móc thiết bị làm máy hoạt động chậm đi nhất là tại môi trường Việt Nam

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết. Còn đang cập nhật.......

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.

Hiberfil.sys là gì? Làm sao để xóa Hiberfil.sys?

LongAnIT 8/24/2019 Bình luận

1. Tìm hiểu về Hibernate của Windows

File Hiberfil.sys là một trong những file tiêu tốn khá nhiều không gian ổ đĩa cứng trên máy tính của bạn. Chế độ ngủ đông (Hibernate) sử dụng các file Hiberfil.sys để lưu trữ trạng thái hiện tại (bộ nhớ) của máy tính, do đó file Hiberfil.sys được Windows quản lý nên bạn không thể xóa các file này theo cách thông thường. Trong bài viết dưới đây Quản trị mạng sẽ hướng dẫn bạn xóa file Hiberfil.sys bằng cách vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hibernate).


Chế độ ngủ (Sleep) giữ máy tính của bạn hoạt động ở trạng thái năng lượng thấp. Khi bạn bật máy từ chế độ Sleep, hệ thống sẽ nhanh chóng khởi động và các dữ liệu sẽ được lấy từ bộ nhớ trong vòng vài giây. Bạn có thể nhanh chóng quay trở lại công việc mà không phải chờ hệ thống khởi động lại từ đầu.

Chế độ ngủ đông (Hibernate) được ít người dùng biết đến hơn. Chế độ ngủ đông (Hibernate) gần giống với chế độ ngủ (Sleep), tuy nhiên ở chế độ ngủ đông, các dữ liệu của bạn sẽ được lưu vào một tập tin trên ổ cứng. Khi bạn khởi động lại máy từ chế độ Hibernate, cũng giống như chế độ Sleep, hệ điều hành cùng các ứng dụng đang chạy và các dữ liệu của bạn nhanh chóng được lấy từ ổ cứng và tải vào bộ nhớ RAM để bạn có thể tiếp tục công việc.

Chế độ ngủ đông (Hibernate) sử dụng các file Hiberfil.sys để lưu trữ trạng thái hiện tại (bộ nhớ) của máy tính, do đó file Hiberfil.sys được Windows quản lý nên bạn không thể xóa các file này theo cách thông thường.

Tuy nhiên nếu muốn xóa file Hiberfil.sys bạn có thể sử dụng cách vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hiberate).

2. Vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hibernate) trên Windows 7, 8, 10 hoặc Vista

Để vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hibernate) trên Windows 7, 8, 10 hoặc Vista, đầu tiên bạn mở Command Prompt dưới quyền Admin bằng cách trên Menu Start (hoặc Start Screen), bạn gõ từ khóa cmd, sau đó kích chuột phải vào biểu tượng Command Prompt rồi chọn Run as administrator.

Sau đó nhập câu lệnh dưới đây vào cửa sổ Command Prompt mà bạn vừa mở:

powercfg -h off
Tắt Hibernate trên windows 7 với cmd
Tắt Hibernate trên windows 7 với cmd
Lúc này trên màn hình bạn có thể nhìn thấy chế độ Ngủ đông (Hibernate) không còn xuất hiện trên Menu Shut down.
Chế độ Tắt Hibernate không xuất hiện trên menu shutdown của windows sau khi tắt
Chế độ Tắt Hibernate không xuất hiện trên menu shutdown của windows sau khi tắt

Và file Hiberfil.sys cũng không còn.

Kiểm tra file Hiberfil.sys không còn tồn tại trong Windows
Kiểm tra file Hiberfil.sys không còn tồn tại trong Windows

3. Vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hibernate) trên Windows XP

Các bước vô hiệu hóa chế độ ngủ đông (Hibernate) trên Windows XP thì đơn giản hơn, bạn chỉ cần vào Control Panel > Power Options sau đó kích vào thẻ Hibernate.

Tại đây bạn bỏ dấu tích trong phần Enable hibernation rồi tiến hành reboot lại máy.

Tắt chế độ Hibernate trên Windows XP
Tắt chế độ Hibernate trên Windows XP

Như vậy là bạn đã xóa được file Hiberfil.sys trên máy tính của mình.

Nếu trong quá trình thực hiện báo lỗi hay gặp khó khăn vui lòng để lại bình luận bên dưới để được hỗ trợ nhé. Chúc các bạn SEO nhanh lên top.